/Images/haiphong.png
  • Xã Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Khối Mầm Non
    • MẦM NON LÝ HỌCTRƯỜNG MẦM NON HÒA BÌNH
      TRƯỜNG MẦM NON TRẤN DƯƠNG
  • Giới thiệu
  • Tin tức sự kiện
  • Hoạt động chuyên môn
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài nguyên
  • Hoạt động nuôi dưỡng
  • liên hệ
  • Văn bản
    Tin video
    Giới thiệu
    Tài nguyên
    Ba công khai
    Chuyển đổi số
    Lịch công tác
    Tin tức sự kiện
    Hoạt động đoàn thể
    Hoạt động chuyên môn
    Hoạt động nuôi dưỡng
    KH công tác tháng của Phòng GD-ĐT
Mầm non Lý Học - Nơi ươm mầm những ước mơ xanh!
  • Trang chủ
  • Hoạt động nuôi dưỡng

TUYÊN TRUYỀN VỀ SUY DINH DƯỠNG VÀ THỪA CÂN BÉO PHÌ

Thứ bảy, 10/5/2025, 12:49 , Lượt đọc : 236
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và proteincũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể PT. SDD làm ảnh hưởng tới sự phát triển thể chât, tinh thần và vận động của trẻ. Thừa cân béo phì là tình trạng cân nặng vượt quá quy định, tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Ảnh đại diện

1.Suy dinh dưỡng là gì?

          Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và proteincũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể PT. SDD làm ảnh hưởng tới sự phát triển thể chât, tinh thần và vận động của trẻ.

 2. Nguyên nhân

Do dinh dưỡng: nuôi trẻ không đúng phương pháp khi mẹ thiếu hoăc mất sữa cho trẻ ăn bổ sung không đúng cả về số lượng và chất lượng.

Do bà mẹ thiếu kiến thức dinh dưỡng hoặc không có thời gian chăm sóc con cái.

Do ốm đau kéo dài: trẻ mắc bệnh nhiểm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lỵ…

Do điều kiện kinh tế xã hội.

3. Hậu quả của SDD là:

Tăng nguy cơ mắc bệnh: nhiểm trùng hô hấp, tiêu chảy….

SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh này xẩy ra và kéo dài, mắc bệnh làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng, vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trở nên nặng nề hơn.

Chậm phát triển thể chất: ảnh hưởng đến tầm vóc của trẻ. Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ càng bị ảnh hưởng trầm trong hơn.

           Chiều cao của trẻ được quy định bởi di truyền, nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiêt để trẻ đại tối đa tiềm năng di truyền của mình.

Chậm phát triển tâm thần: trẻ suy dinh dưỡng thường là thiếu nhiều chất, trong đó có những chất rất cần thiết cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ.

Trẻ bị SDD thường bị chậm chạp, lờ đờ, vì vậy giao tiếp xã hôi thường kém, kéo theo giảm khả năng tiếp thu trong học tâp, giảm khả năng tiếp thu trong học tâp.

5. Xử lý khi trẻ bị suy dinh dưỡng

            Chế độ ăn cân đối hợp lý phối hợp nhiều loại thực phẩm , nên chia nhỏ bữa để trẻ ăn được nhiều hơn và chế biến mềm nhừ để dễ hấp thu. Với những trẻ bị duy dinh dưỡng vì bữa chính trẻ không ăn hết suất nên tăng thêm bữa phụ cho đến khi cân nặng của trẻ trở về bình thường .hằng ngày theo dõi tình hình trẻ ăn ở trường nếu ngày nào trẻ ăn không tốt cần trao đổi với cha mẹ trẻ vào cuối ngày để cha mẹ trẻ tăng cường bữa ăn ở nhà .Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn cho trẻ bị suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ bị suy .Thường xuyên trao đổi với cha mẹ trẻ về tình trạng dinh dưỡng của trẻ ,cách chế biến bữa ăn ở nhà để trẻ có chế độ dinh dương tốt nhất cả ở nhà và ở trường. Khi bị nhiểm trùng hoặc tiêu chảy phải điều trị và quan tâm chăm sóc dinh dưỡng trong và sau thời gian mắc bệnh.

7. Phòng chống suy dinh dưỡng

            Xây dựng thưc đơn hợp lý, đối với những nơi trẻ SDD nhiều tăng chất béo tối đa theo nhu cầu khuyến nghị. Theo dõi trẻ qua chấm biểu đồ tăng trưởng. Bữa ăn phải cân đối giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao: Một khẩu phần ăn cân đối sẽ giúp cho cơ thể có đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển, duy trì sự sống và làm việc, vui chơi giải trí. Nếu ăn nhiều mà không hoạt động dẫn đến thừa năng lượng thì sẽ gây béo phì, nếu để trẻ đói, ăn không đủ chất, đủ lượng , trẻ sẽ mệt mỏi, kém hoạt động và dẫn đến bị suy dinh dưỡng. Bữa ăn phải điều độ theo yêu cầu dinh dưỡng : Phấn đấu bữa ǎn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp nǎng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung , luân phiên thay đổi món ăn giúp trẻ ngon miệng, chǎm sóc về tâm lý, tình cảm và chǎm sóc về vệ sinh vấn đề chủ quan của phần đông người lớn. Dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ǎn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ǎn không là nguồn gây bệnh.

II. Phòng chống thừa cân béo phì.

1.Khái niệm

          Thừa cân béo phì là tình trạng cân nặng vượt quá quy định, tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

2. Các yếu tố nguy cơ gây béo phì

           Có nhiều yếu tố dẫn đến thừa cân, béo phì. Trong đó, thói quen trong ăn uống: như phổ biến nhất là tình trạng năng lượng khẩu phần vượt quá nhu cầu, nhất là năng lượng do chất béo và bột, đường cung cấp. Trẻ được nuôi bằng sữa bò có nguy cơ thừa cân - béo phì cao hơn trẻ bú mẹ, vì thức ăn nhân tạo giàu protein và muối, làm tăng áp lực thẩm thấu, gây cảm giác khát, kích thích trẻ ăn nhiều hơn.

- Giảm hoạt động thể lực cũng là yếu tố nguy cơ cao của thừa cân, béo phì. Hiện có nhiều trẻ không tham gia thể dục thể thao, ít đi bộ, đi xe đạp... mà dành nhiều thời gian cho hoạt động tĩnh tại như xem vô tuyến, chơi điện tử. Theo một số nghiên cứu, trong khi xem vô tuyến, sự trao đổi chất giảm đáng kể.

- Ngủ ít cũng gây béo vì làm giảm tiêu mỡ (quá trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ). Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh mối liên quan giữa thời gian ngủ ngắn với chứng béo phì.

- Yếu tố gia đình, di truyền:Tuy chưa chứng minh được đầy đủ vai trò của di truyền đối với chứng thừa cân, béo phì nhưng thực tế cho thấy, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những đứa trẻ có cha hoặc mẹ nặng cân, đặc biệt là khi cả cha mẹ đều béo, đột biến đơn gen, tác động đa gen.

- Yếu tố kinh tế xã hội

- Bệnh nội tiết: Do tác dụng phụ của thuốc

3. Hậu quả của chứng thừa cân, béo phì

Chứng thừa cân, béo phì ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ khi trưởng thành. Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởng sớm. Trước dậy thì, chúng thường cao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn so với bạn bè. Ngoài ra, chứng béo phì cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật (tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, sỏi mật, viêm khớp...) và tử vong. Mắc các bệnh về da, do cọ xát giữa quần ao với da khi vận động. Mắc các bệnh về hô hấp; về tim mạch; đường tiêu hóa; về nội tiết và chuyển hóa. Hậu quả về kinh tế xã hội của béo phì, gây ảnh hưởng đến tâm lý ở trẻ em.

6. Phòng chống thừa cân béo phì

Để dự phòng thừa cân và béo phì, cần chăm sóc tốt cho trẻ

6.1. Chế độ ăn hợp lý

            Ngay từ trong bào thai để tránh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh. Cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chỉ cai sữa sau 2 năm. Nếu phải nuôi bằng sữa bột, không nên sử dụng thêm đường hay tinh bột. Khi trẻ ăn dặm, thức ăn phải được bổ sung vi chất dinh dưỡng cần thiết để giúp tăng trưởng tối đa. Đối với trẻ lớn và trẻ vị thành niên, cần tăng cường hoạt động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp theo từng lứa tuổi (như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội...). Sinh hoạt điều độ, hạn chế xem vô tuyến, chơi điện tử hoặc thức quá khuya. Về ăn uống, cần đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng để trẻ phát triển bình thường; khuyến khích ăn rau và hoa quả. Hạn chế sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng và đồ uống có đường.

6.2. Chương trình sữa học đường

6.3. Chương trình bữa ăn học đường:

Trường mầm non, tiểu học tổ chức ăn bán trú cần lưu ý xây dựng thực đơn hợp lý.

6.4. Tập cho trẻ thói quen đi ngủ sớm trước 21 h.

 6.5. Tăng cường hoạt động thể lực

 6. 6. Theo dõi tăng trưởng

 6.7. Tuyên tuyền, tư vấn cho phụ huynh học sinh

Cha mẹ cần phối hợp với nhà trường để phát hiện sớm suy dinh dưỡng hoặc thừa cân, béo phì để xử trí kịp thời. Chế biến khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối, hợp lý, nên phối hợp nhiều loại thức ăn, tránh ăn một loại thực phẩm nào đó. Nếu uống sữa nên uống không đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy (sữa bột tách bơ). Không nên uống sữa đặc có đường.

Chế biến thức ăn: Hạn chế các món rán, xào, nên làm các món luộc, hấp, kho. Nên nhai kỹ và ăn chậm, ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu bị quá đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích luỹ nhanh hơn.

Nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, giảm ăn về chiều và tối. Nên ăn nhiều rau xanh, quả ít ngọt. Giảm bớt gạo thay bằng khoai, ngô là những thức ăn cơ bản giàu chất xơ . Cháo, bột cần có mức năng lượng thấp, không cho thêm các thực phẩm nhiều béo vào bát bột, cháo của trẻ như: bơ, phomat, sữa giàu béo Trẻ ăn uống hoạt động tích cực để phòng thừa cân, béo phì

Hạn chế tối đa cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga Cho trẻ ăn ít các loại bánh kẹo, đường mật, kem, sữa đặc có đường. Không nên dự trự sẵn các loại thức ăn giàu năng lượng như: Bơ, pho mát, bánh, kẹo, chocoat, kem, nước ngọt trong nhà.

Không nên cho trẻ ăn vào lúc tối trước khi đi ngủ. So với điều trị bằng chế độ ăn, tăng cường hoạt động thể lực tỏ ra có hiệu quả hơn, giúp trẻ phát triển chiều cao và duy trì sức khoẻ tốt.

Trẻ tăng cường vận động để phát triển cân đối, không bì thừa cân, béo phì Tạo niềm thích thú của trẻ đối với các hoạt động thể dục thể thao, đi bộ, bơi lội, đi xe đạp…

Các bậc cha mẹ cần quan tâm ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp trẻ năng động. Chú trọng những sở thích của trẻ tham gia các môn thể thao dễ dàng gần gũi với cuộc sống như: đi bộ đến trường, chạy, nhảy dây, đá bóng, đánh cầu lông, đá cầu, leo cầu thang… Nên hướng dẫn trẻ làm các công việc ở nhà: Lau dọn nhà cửa, xách nước tưới cây, bưng bê đồ đạc… Hạn chế ngồi xem tivi, video, trò chơi điện tử… Cân đối hợp lý giữa học và chơi, nên tạo điều kiện để trẻ được vui đùa chạy nhảy sau những giờ học căng thẳng để trẻ có thể phát triển cân đối cả thể chất và tinh thần.

Tác giả: Lê Thị Luyện
Người đăng tin: Quản trị hệ thống
Nguồn tin: Trường mầm non Lý Học
Lớp 4 tuổi 2 chuẩn bị giờ ngủ trưa cho trẻ

Lớp 4 tuổi 2 chuẩn bị giờ ngủ trưa cho trẻ

Trong công tác chăm sóc bán trú tại trường mầm non, việc tổ chức và chuẩn bị giấc ngủ trưa cho trẻ đóng vai trò rất quan trọng, giúp trẻ được nghỉ ngơi, phục hồi năng lượng và phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Tại lớp 4 tuổi 2, các cô giáo luôn chú trọng rèn cho trẻ thói quen nề nếp trước giờ ngủ. Sau bữa trưa, trẻ được hướng dẫn vệ sinh cá nhân sạch sẽ, đi vệ sinh và rửa tay. Các bé tự lấy gối, chăn và sắp xếp chỗ ngủ gọn gàng, ngay ngắn theo vị trí của mình. Không gian lớp học được giữ yên tĩnh, thoáng mát, ánh sáng dịu nhẹ để giúp trẻ dễ dàng đi vào giấc ngủ. Trong suốt giờ ngủ, cô giáo luôn quan sát, chăm sóc để đảm bảo trẻ ngủ ngon và an toàn. Việc duy trì nề nếp ngủ trưa không chỉ giúp trẻ có sức khỏe tốt mà còn hình thành cho trẻ thói quen tự lập, gọn gàng và ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân. Nhờ sự quan tâm chăm sóc của các cô giáo cùng sự phối hợp của phụ huynh, các bé lớp 4 tuổi 2 luôn có những giấc ngủ trưa êm ái, góp phần giúp trẻ phát triển khỏe mạnh và vui vẻ mỗi ngày.
  • Lươn và thành phần dinh dưỡng từ thịt lươn

    Lươn không chỉ được biết đến là một loại thực phẩm ngon với phần thịt mềm ngọt và có thể chế biến đa dạng thành nhiều món ăn ngon; mà chúng còn được người dân Nhật bản rất yêu thích chính vì có nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe không khác gì các loại thịt cá khác.
  • Trường mầm non Lý Học: Các loại thực phẩm tốt cho trẻ trong mùa hè.

    Trường mầm non Lý Học: Các loại thực phẩm tốt cho trẻ trong mùa hè.

    Mùa hè với thời tiết nắng nóng dễ khiến trẻ nhỏ mệt mỏi, chán ăn, mất nước. Vì vậy, việc lựa chọn thực phẩm phù hợp giúp tăng cường sức khỏe, giải nhiệt và hỗ trợ hệ miễn dịch cho trẻ là vô cùng quan trọng.
  • Bài tuyên truyền về an toàn giao thông cho trẻ mầm non - Trường mầm non Lý Học

    Bài tuyên truyền về an toàn giao thông cho trẻ mầm non - Trường mầm non Lý Học

    Như chúng ta đã biết tai nạn giao thông là những điều không ai mong muốn trong mỗi chúng ta, thế nhưng nó lại đang diễn ra từng ngày từng giờ và có thể cướp đi mạng sống của con người bất kì lúc nào. Mỗi ngày trôi qua có nhiều sinh mạng bị đe dọa bởi tai nạn giao thông. Đáng buồn hơn khi không ít những nạn nhân của tai nạn giao thông là các em học sinh, trong đó có không ít trẻ ở độ tuổi mầm non. Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đối với các bé chủ yếu là do cha mẹ hoặc người lớn uống rượu, bia điều khiển phương tiện, chạy quá tốc độ quy định, lấn làn, lấn luồng, không chấp hành - thậm chí chống người thi hành công vụ, không ít các trường hợp xảy ra thật đáng tiếc lại chính từ sự bất cẩn của người lớn như cho trẻ ngồi không đúng tư thế, không đội mũ bảo hiểm cho trẻ, đèo trẻ không có đai an toàn hoặc để xe máy nổ chỉ có một mình trẻ ngồi trên xe, cho trẻ nhỏ một mình sang đường không có người hướng dẫn...
  • Bài thuyết trình về dinh dưỡng cho trẻ mầm non

    Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ mầm non là yếu tố quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn trí tuệ. Trong giai đoạn này, cơ thể trẻ đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ, do đó việc cung cấp đầy đủ và hợp lý các chất dinh dưỡng là vô cùng cần thiết. Bài thuyết trình về dinh dưỡng cho trẻ mầm non hôm nay sẽ chia sẻ những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng cho trẻ mầm non, giúp các bậc phụ huynh và giáo viên có thể áp dụng những nguyên tắc đúng đắn trong việc chăm sóc bữa ăn cho trẻ.

Chia sẻ tin bài

  • Giới thiệu
  • Tin tức sự kiện
  • Hoạt động chuyên môn
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài nguyên
  • Hoạt động nuôi dưỡng
Mầm non Lý Học
Chung nhan Tin Nhiem Mang

© Bản quyền thuộc Mầm non Lý Học - mnlyhoc.haiphong.edu.vn

Tập đoàn công nghệ Quảng Ích

×